
Chuyển đổi số góp phần kết nối các cấp chính quyền, rút ngắn quy trình xử lý công việc, nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp (Ảnh minh họa).
Sau một năm vận hành mô hình mới, những kết quả đạt được về hạ tầng số, dịch vụ công trực tuyến, số hóa hồ sơ và kết nối dữ liệu cho thấy chuyển đổi số đang từng bước trở thành nền tảng phục vụ hoạt động của bộ máy hành chính, tạo điều kiện để các cấp chính quyền thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao.
Chuyển đổi số góp phần bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt
Năm 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị khi nước ta đồng thời triển khai sắp xếp tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính và chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong mô hình tổng thể chính quyền 3 cấp, trung ương, cấp tỉnh và cấp xã được tổ chức, vận hành với sự phân định ngày càng rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm. Trong đó, chính quyền địa phương được tổ chức ở 2 cấp là cấp tỉnh và cấp xã, không tổ chức cấp huyện.
Sự thay đổi này cũng đặt ra yêu cầu lớn về kết nối, chia sẻ thông tin và xử lý công việc giữa các cấp. Khi cấp huyện kết thúc hoạt động, một khối lượng lớn nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền cho địa phương, trong đó cấp xã trở thành nơi trực tiếp giải quyết nhiều công việc liên quan đến người dân, doanh nghiệp.
Theo báo cáo của Đảng ủy Chính phủ, trong tổng số 1.164 nhiệm vụ của cấp huyện trước đây, có 859 nhiệm vụ được chuyển cho cấp xã, 188 nhiệm vụ chuyển cho cấp tỉnh và 117 nhiệm vụ được điều chỉnh hoặc bãi bỏ. Cấp xã trực tiếp đảm nhận ít nhất 938 nhiệm vụ phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền.
Khối lượng công việc tăng lên, địa bàn quản lý rộng hơn sau sắp xếp đặt ra yêu cầu phải đổi mới cách thức xử lý công việc. Nếu vẫn chủ yếu dựa vào hồ sơ giấy, quy trình thủ công và việc trao đổi trực tiếp giữa các cơ quan thì sẽ khó đáp ứng yêu cầu về tốc độ và chất lượng giải quyết công việc. Vì vậy, chuyển đổi số trở thành một trong những điều kiện quan trọng để mô hình mới vận hành hiệu quả.
Thực tế sau một năm vận hành mô hình mới, cho thấy hạ tầng số phục vụ vận hành chính quyền địa phương 2 cấp đã cơ bản được hình thành trên phạm vi toàn quốc. Đến tháng 6/2026, mạng viễn thông băng rộng di động đã phủ sóng tới 99,56% số thôn, bản; vùng phủ sóng 5G đạt khoảng 91,9% dân số, với hơn 23 triệu thuê bao và 39.410 trạm 5G. Mạng Truyền số liệu chuyên dùng đã kết nối đến 100% cơ quan Đảng, Nhà nước cấp cơ sở.
Đây là điều kiện quan trọng để thông tin được trao đổi nhanh hơn, công việc được xử lý trên môi trường điện tử và sự phối hợp giữa các cấp chính quyền được thuận lợi hơn, nhất là trong điều kiện cấp xã đang đảm nhận khối lượng nhiệm vụ lớn hơn trước.
Cùng với hạ tầng, các nền tảng phục vụ người dân, doanh nghiệp cũng tiếp tục được hoàn thiện. Cổng Dịch vụ công quốc gia tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia đã cung cấp trực tuyến 3.745 thủ tục hành chính, cho phép người dân, doanh nghiệp thực hiện dịch vụ công bằng tài khoản định danh điện tử VNeID. Đến nay, 13/17 bộ, ngành đã hoàn thành xây dựng và đưa vào triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ theo mô hình tập trung.
Chuyển đổi số cũng gắn chặt với cải cách thủ tục hành chính. Sau một năm triển khai mô hình mới, Chính phủ đã ban hành 11 Nghị quyết và 21 Thông tư chuyên đề, cắt giảm, đơn giản hóa 3.486 thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, góp phần giảm 53% thời gian thực hiện và tiết kiệm cho xã hội hơn 23 nghìn tỷ đồng mỗi năm.
Toàn quốc đã tiếp nhận trên 42,5 triệu hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính, trong đó tỷ lệ nộp trực tuyến đạt 91,74%, tỷ lệ giải quyết đúng hạn duy trì trên 95%. Công tác số hóa hồ sơ đạt gần 95%, với hơn 16,5 triệu hồ sơ được khai thác, tái sử dụng dữ liệu số.
Những kết quả này cho thấy cách thức giải quyết thủ tục hành chính đang có sự thay đổi rõ rệt. Người dân, doanh nghiệp ngày càng có thể thực hiện nhiều thủ tục trên môi trường trực tuyến, giảm thời gian đi lại, giảm việc phải cung cấp lại những thông tin đã có và thuận lợi hơn trong theo dõi quá trình giải quyết hồ sơ.
Đồng thời, việc số hóa hồ sơ và khai thác, tái sử dụng dữ liệu cũng giúp cơ quan nhà nước giảm bớt các khâu xử lý thủ công, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ.
Từ số hóa quy trình đến quản trị dựa trên dữ liệu
Nếu trong giai đoạn đầu, chuyển đổi số tập trung nhiều vào việc xây dựng hạ tầng, đưa thủ tục lên môi trường trực tuyến và bảo đảm hoạt động của bộ máy không bị gián đoạn, thì yêu cầu trong giai đoạn tới sẽ cao hơn. Đó là khai thác hiệu quả dữ liệu để phục vụ quản lý, điều hành và ra quyết định.
Đây là yêu cầu có ý nghĩa thiết thực đối với mô hình chính quyền 3 cấp. Khi cấp xã được giao nhiều nhiệm vụ hơn, việc tổ chức thực hiện không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm hoặc tổng hợp thông tin theo cách thủ công. Cán bộ, công chức cần có đầy đủ thông tin, dữ liệu để xử lý công việc nhanh, chính xác và đúng thẩm quyền.
Theo báo cáo của Đảng ủy Chính phủ, một trong những bài học kinh nghiệm được rút ra sau một năm vận hành mô hình mới là phải đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu số và đổi mới phương thức quản trị trên môi trường số, coi đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm bộ máy mới vận hành hiệu quả, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và năng lực quản trị.
Vì vậy, thời gian tới cần tiếp tục đầu tư, nâng cấp đồng bộ hạ tầng số từ trung ương đến cơ sở, nhất là tại các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Các hệ thống thông tin, nền tảng số và Mạng Truyền số liệu chuyên dùng phải được bảo đảm vận hành ổn định, thông suốt, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ công.
Cùng với hạ tầng, dữ liệu là vấn đề cần được tập trung hơn. Các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và nền tảng dùng chung cần được kết nối, chia sẻ hiệu quả, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và dùng chung”.
Khi dữ liệu được kết nối, chia sẻ, mỗi cấp chính quyền sẽ có thêm điều kiện để thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ được giao. Cấp tỉnh có thể nắm bắt tình hình, điều phối và hỗ trợ cấp xã; cấp xã có thể khai thác dữ liệu để giải quyết trực tiếp công việc của người dân, doanh nghiệp; Trung ương có thêm cơ sở thực tiễn để hoạch định chính sách, quản lý, kiểm tra và giám sát.
Có thể thấy, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc giao thêm nhiệm vụ cho địa phương chỉ thực sự hiệu quả khi đi cùng với thẩm quyền, nhân lực, nguồn lực và thông tin cần thiết. Trong đó, dữ liệu và các nền tảng số là một nguồn lực quan trọng giúp chính quyền cơ sở thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, báo cáo của Đảng ủy Chính phủ cũng chỉ ra rằng hạ tầng số và dữ liệu hiện vẫn chưa hình thành được một nền tảng thống nhất. Toàn quốc còn 435 thôn, bản chưa được phủ sóng viễn thông đầy đủ; việc liên thông dữ liệu theo thời gian thực giữa các hệ thống chưa đồng bộ. Một số phần mềm chuyên ngành chưa được thiết kế, nâng cấp phù hợp với quy trình xử lý công việc của mô hình chính quyền mới.
Qua rà soát khoảng 18.500 cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị, vẫn còn một tỷ lệ đáng kể máy tính, thiết bị đầu cuối chưa đáp ứng yêu cầu; khoảng 54% máy tính chưa cài đặt chữ ký số. Những con số này cho thấy điều kiện phục vụ chuyển đổi số ở một số nơi vẫn cần tiếp tục được đầu tư, nâng cấp.
Thực tế đó cũng cho thấy chuyển đổi số trong mô hình chính quyền 3 cấp không đơn thuần là trang bị máy tính, phần mềm hay đưa thủ tục hành chính lên môi trường trực tuyến. Quan trọng hơn là phải từng bước thay đổi cách thức vận hành công việc, bảo đảm hệ thống thông tin được kết nối, dữ liệu được chia sẻ và quy trình xử lý được thực hiện thuận lợi giữa các cấp.
Nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ cơ sở
Cùng với hạ tầng và dữ liệu, con người là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả chuyển đổi số. Điều này càng rõ khi cấp xã hiện trực tiếp đảm nhận khối lượng lớn nhiệm vụ sau khi thực hiện phân cấp, phân quyền.
Theo báo cáo, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện được hình thành từ nhiều nguồn, có trình độ, năng lực và kỹ năng thực thi nhiệm vụ không đồng đều. Một số địa phương còn thiếu cán bộ có chuyên môn sâu, trong đó có lĩnh vực công nghệ thông tin. Vì vậy, nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là ở cơ sở, cần được xác định là một nhiệm vụ thường xuyên.
Đảng ủy Chính phủ xác định cần tập trung đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng xử lý hồ sơ điện tử, khai thác dữ liệu và sử dụng các nền tảng số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công nghệ số trong hoạt động công vụ; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong triển khai chuyển đổi số và gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Đây cũng là yêu cầu cần được quan tâm trong quá trình nâng cao năng lực thực thi của chính quyền cấp xã. Bởi khi nhiệm vụ được phân cấp ngày càng nhiều, cán bộ cơ sở không chỉ cần nắm chắc chuyên môn mà còn phải có khả năng sử dụng hiệu quả các công cụ số, khai thác thông tin, dữ liệu để giải quyết công việc.
Sau một năm vận hành mô hình chính quyền 3 cấp, có thể thấy chuyển đổi số không còn là một nội dung riêng của cải cách hành chính mà ngày càng gắn trực tiếp với cách thức tổ chức và vận hành của bộ máy. Hạ tầng số tạo kết nối giữa các cấp; dữ liệu giúp các cơ quan có thêm thông tin để xử lý công việc; các nền tảng số hỗ trợ rút ngắn quy trình và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính.
Trong thời gian tới, khi yêu cầu đặt ra là nâng cao chất lượng vận hành, hiệu lực, hiệu quả quản trị và năng lực thực thi của bộ máy, chuyển đổi số cũng cần được triển khai thực chất hơn. Điều quan trọng không chỉ là có thêm bao nhiêu dịch vụ công trực tuyến hay bao nhiêu hồ sơ được số hóa, mà là dữ liệu có được kết nối, khai thác hiệu quả hay không; cán bộ có sử dụng tốt các công cụ số hay không và người dân, doanh nghiệp có thực sự thuận lợi hơn khi làm việc với cơ quan nhà nước hay không.
Đây cũng là thước đo quan trọng để chuyển đổi số thực sự trở thành nền tảng phục vụ mô hình chính quyền 3 cấp, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng tốt hơn./.